Tuesday, 02/03/2021 - 12:13|
Thầy và trò trường THCS Quang Phú dạy tốt - học tốt lập thành tích chào mừng 35 năm ngày Nhà Giáo Việt Nam

CHUYÊN ĐỀ DẠY HỌC TIẾT LUYỆN NÓI Ở MÔN NGỮ VĂN BẬC THCS

 

I. Lí do chọn chuyên đề:

        Trong mục tiêu dạy học bậc THCS, chương trình môn Ngữ văn nhấn mạnh việc rèn luyện kỹ năng nghe, nói, đọc, viết tiếng Việt . Chính vì thế, SGK Ngữ văn THCS cũng đã chú trọng hơn tới việc hình thành và phát triển kỹ năng nói. Đây là một trong những điểm mới về quan điểm dạy học của môn học.

       Trong thực tế cũng có không ít học sinh khi ra trường kiến thức sách vở thì có thừa nhưng kĩ năng giao tiếp, truyền đạt thông tin thì lại hạn chế. Những người này không biết nói ra những điều mình nghĩ, không biết trình bày một vấn đề sao cho khoa học để người nghe dễ tiếp thu.

      II. Mục đích của chuyên đề:

      Rèn luyện có hiệu quả kĩ năng nói cho học sinh nhằm đáp ứng được mục tiêu, yêu cầu của môn học, và rộng hơn là đáp ứng được nhu cầu giao tiếp của xã hội. Việc luyện nói cho học sinh trong nhà trường là một hoạt động quan trọng nhằm giúp cho học sinh có thói quen nói, tự tin, không lúng túng khi giao tiếp cho dù ở bất cứ hoàn cảnh, môi trường nào. Luyện nói tốt sẽ giúp cho học sinh có được một công cụ giao tiếp hiệu quả trong đời sống xã hội, tạo điều kiện cho học sinh biết cách phát biểu những quan điểm, những ý kiến của cá nhân mình về một vấn đề mà các em quan tâm. Điều đó cũng có nghĩa là rèn cho học sinh kĩ năng nói trước tập thể để thể hiện những suy nghĩ của cá nhân về những vấn đề gần gũi, thiết thực với cuộc sống hằng ngày.

     III. Nội dung triển khai chuyên đề:

     III.1. Định hướng:

           1.1. Xác định tầm quan trọng của tiết luyện nói: Như chúng ta đã biết, Tập làm văn là phân môn có vị trí quan trọng trong môn Ngữ văn. Các em viết một bài tập làm văn đã khó, nhưng để nói được về đề tài đó thì các em lại càng khó khăn, lúng túng hơn nhiều. Để nói tốt một vấn đề nào, người nói vừa phải am hiểu về nội dung đề tài, vừa phải có sự chuẩn bị chu đáo ở một mức độ nhất định, đồng thời cũng phải biết cách nói để thu hút sự chú ý của người nghe. Muốn vậy, cần phải có sự đòi hỏi ở từ cả hai phía: giáo viên phải có sự hướng dẫn cho các em chuẩn bị cặn kẽ, còn học sinh thì phải chú trọng từ trong khâu chuẩn bị đến việc rèn kĩ năng luyện nói ở trên lớp và ở cả trong giao tiếp hằng ngày.

       1.2.  Nắm một cách có hệ thống số lượng tiết luyện nói và nội dung nói trong từng tiết học:

      Trong chương trình Ngữ văn ở bậc THCS, số tiết luyện nói ở phân môn Tập làm văn là 14 tiết (Theo Tài liệu phân phối chương trình môn Ngữ văn- Trường THCS Quang Phú, áp dụng từ năm học 2020- 2021). Cụ thể là:

* Lớp 6:

Tiết 28 – Tuần 7 – Bài 7 : Luyện nói kể chuyện

Tiết 48 – Tuần 12 – Bài 11 : Luyện nói kể chuyện

          Tiết 87– Tuần 23 – Bài 20 : Luyện nói về quan sát, tưởng tượng, so sánh và nhận xét trong văn miêu tả.

          Tiết 103 – Tuần 26 – Bài 23 : Luyện nói về văn miêu tả

* Lớp 7:

          Tiết 42-43: – Bài 10 : Luyện nói: Văn biểu cảm về sự vật, con người.

          Tiết 55: – Bài 13 : Luyện nói: Phát biểu  cảm nghĩ về tác phẩm văn học.

          * Lớp 8:

          Tiết 47-48:– Bài 10: Luyện nói: Kể chuyện theo ngôi kể kết hợp với miêu tả và biểu cảm.

          Tiết 62-63:– Bài 14 : Luyện nói: Thuyết minh một thứ đồ dùng.

* Lớp 9 :

          Tiết 72: – Bài 13 : Luyện nói : Tự sự kết hợp với nghị luận và miêu tả nội tâm.

          Tiết 143-144: – Bài 27: Luyện nói: Nghị luận về một đoạn thơ, bài thơ.

     Tuy số lượng tiết luyện nói còn ít nhưng các tiết luyện nói trong chương trình Tập làm văn ở bậc THCS đã thể hiện rất rõ tính tích hợp của nó trong phạm vi một phân môn hoặc giữa phân môn Tập làm văn với Văn bản và Tiếng Việt. Chẳng hạn như ở chương trình Lớp 9 (Học kì II), khi trọng tâm của phần Tập làm văn là nghị luận văn học thì tiết luyện nói tương ứng sẽ là Luyện nói nghị luận về một đoạn thơ, bài thơ. Cũng chính vì thế mà giờ luyện nói trong Tập làm văn có mục đích rất rõ là để nhằm luyện nói- một kĩ năng chưa được chú ý nhiều trong chương trình hiện nay. Thực ra, luyện nói cho học sinh không phải chỉ có tiết luyện nói trong phân môn Tập làm văn mà còn ở các giờ khác, các môn học khác hay trong bất kì các cuộc sinh hoạt tập thể…vv. Tuy nhiên cũng cần thấy rằng, giờ luyện nói của Tập làm văn với việc thực hành nói ở các tiết học có sự khác biệt rất rõ ràng. Sự khác nhau này thể hiện trước hết ở nội dung nói. Cụ thể là: nội dung nói ở các giờ học khác gắn với nội dung cụ thể của mỗi bài học, mỗi hoạt động còn nội dung nói ở giờ Tập làm văn cũng gắn chặt với nội dung đang học nhưng không phải thích nói gì cũng được. Sự khác biệt trên còn thể hiện ở tính chất luyện nói. Nếu như nói ở các giờ học và các hoạt động khác là nói một cách tự nhiên, thì nói ở giờ luyện nói trong phân môn Tập làm văn buộc học sinh có ý thức rõ hơn về việc tập nói, nói có bài bản, có sửa chữa, uốn nắn, có sự theo dõi và đánh giá của người khác. Vì vậy muốn giờ luyện nói có chất lượng và hiệu quả, giáo viên cần lưu ý cho học sinh khi chuẩn bị bài nói có thể và cần thiết là viết đề cương nhưng không nên viết thành văn, không học thuộc, không nói từ đầu đến cuối bằng một giọng đều đều. Điều đó cũng có nghĩa là giáo viên phải hướng dẫn cho học sinh một cách cặn kẽ về việc lập dàn ý, sửa câu chữ, chính tả, cách dùng từ, tránh lặp từ…vv.

   III.2.Yêu cầu:

        2. 1- Xác định nguyên tắc chung của tiết luyện nói:

- Phát huy tối đa tính tích cực của chủ thể HS.

- Phát huy thế mạnh của hoạt động nhóm/tổ.

- Ưu tiên hàng đầu cho việc luyện kỹ năng nói nhưng không tách rời với các kỹ năng nghe - đọc - viết.

- Chú trọng quan tâm cả ba nhóm đối tượng học sinh (giỏi, khá – trung bình – yếu, kém ).

- Tạo được không khí tự nhiên, thoải mái, nhẹ nhàng và lựa chọn nội dung hấp dẫn để lôi cuốn các em vào hoạt động luyện nói.

- Thể hiện thái độ khích lệ, động viên, nâng đỡ để tránh cho em cảm giác tự ti, xấu hổ.

- Đầu tư thật kỹ cho khâu chuẩn bị ở nhà của HS.

2.2.  Lựa chọn nội dung trong tiết luyện nói:

- Cần lựa chọn nội dung luyện tập một cách linh hoạt, đạt hiệu quả.

- Vừa bám sát vào các BT ở SGK vừa vận dụng tình hình, đặc điểm cụ thể để có thể thay đổi, thêm bớt bài tập cho phù hợp.

2.3. Xác định vai trò của GV và HS trong tiết luyện nói:

- Học sinh:

Là người hoạt động chủ yếu,phải là những chủ nhân thực sự, chiếm lĩnh hầu hết các hoạt động trong tiết học. Các em tựa như những diễn viên hoàn toàn làm chủ sân khấu với những hình thức phong phú, đa dạng: độc thoại, đối thoại, diễn trò, đóng vai...

-  Giáo viên:

          Nói chung, đối với tiết luyện nói, giáo viên nên tránh hai khuynh hướng sau:

+ Cho rằng giờ luyện nói là của học sinh, dành cho HS thực hành là chính; từ đó GV không làm gì cả, khoán trắng, phó mặc cho HS muốn nói thế nào cũng được; tất cả đổ cho năng lực của HS; dẫn đến tiết học đơn điệu, buồn tẻ, mất tác dụng.

+ Quá lo sợ rằng HS không nói được, không trình bày được vấn đề trước tập thể nên làm thay, nói hộ hết cho HS; hoặc tiến hành tiết dạy một cách qua loa, chiếu lệ cho xong.

          Trong tiết luyện nói, GV hoạt động rất ít để trao quyền ưu tiên cho HS hoạt động với thời lượng tối đa có thể được. Tuy nhiên GV vẫn là người bao quát, chỉ đạo linh hoạt để đảm bảo cho hoạt động của HS đúng hướng và đạt hiệu quả cao.

        III.3. Biện pháp, giải pháp:

             3.1.Chuẩn bị chu đáo nội dung trước khi dạy học tiết luyện nói:

   Có thể nói, đây là yêu cầu quan trọng quyết định phần lớn thành công giờ luyện nói ở trên lớp vì có chuẩn bị thì học sinh mới nắm được mình sẽ nói gì trong tiết học tới.

 3.1.1. Đối với giáo viên:

           Giáo viên cần phải có sự chuẩn bị từ trước cho những tiết luyện nói sẽ được thực hiện trong chương trình. Điều đó có nghĩa là giáo viên phải dành ra thời gian hợp lí để hướng dẫn cho học sinh chuẩn bị ở nhà thật tỉ mỉ, cặn kẽ về nội dung (ít nhất là trước 2-3 ngày) cho giờ luyện nói ở trên lớp. Sự chuẩn bị ấy có thể hướng cho học sinh theo những gợi ý cụ thể như:

       - Tìm hiểu đề bài: Giáo viên cần hướng dẫn cho học sinh phân tích được đề bài: Đề bài yêu cầu gì? Kiến thức cần có trong bài tập nói này là gì? Nghĩa là giáo viên phải giúp học sinh tự xác định đúng yêu cầu của đề để khi thực hành luyện nói, các em sẽ không chệch hướng, đảm bảo nội dung mà đề bài yêu cầu, không nói tràn lan.

       - Sau đó tiến hành tìm ý và lập dàn bài  của đề bài yêu cầu. Ở phần này giáo viên cần hướng dẫn học sinh cụ thể bố cục của một văn bản nói mà các em sẽ thực hiện theo trình tự:

   +  Phần Mở bài: Dự định sẽ nói những ý gì?  Trước khi nói có cần chào và giới thiệu về bản thân hay không?

   + Phần Thân bài: Sẽ nói những ý nào? Nội dung chính của từng ý là gì? Nét đặc sắc nghệ thuật chính là gì? Ở phần Thân bài này, giáo viên có thể hướng dẫn cho học sinh chuẩn bị nội dung theo các câu hỏi gợi ý để giúp học sinh dễ nhớ, dễ nắm. Từ đó giúp cho học sinh tự tin, làm chủ kiến thức khi tiến hành nói và đồng thời giáo viên cũng sẽ dễ dàng sửa chữa sai sót cho học sinh hơn.

   + Phần Kết bài: Nêu cảm nghĩ về đối tượng được nói đến và không quên lời chúc, lời cảm ơn cả lớp đã theo dõi, lắng nghe.

     Giáo viên cần cho học sinh nắm rõ những yêu cầu trên khi hướng dẫn cho học sinh chuẩn bị trước nội dung nói ở nhà để thực hiện vào tiết luyện nói trên lớp theo qui định của chương trình. Đồng thời cần thiết cũng phải nhắc lại những yêu cầu này trước mỗi giờ luyện nói để giúp học sinh định hướng được và thực hiện phần luyện nói của mình có hiệu quả hơn. Tuy nhiên, giáo viên cũng cần lưu ý là tùy thuộc vào đối tượng học sinh, vào từng khối lớp cụ thể để đưa ra những mức độ yêu cầu thật phù hợp.

      3.2.2. Đối với học sinh:

       Ở bậc THCS, vốn kiến thức của học sinh còn hạn chế, chưa được luyện nói nhiều nên giáo viên cũng cần phải hướng dẫn và yêu cầu học sinh chuẩn bị công phu hơn cho tiết luyện nói. Do đó, dưới sự hướng dẫn của giáo viên, học sinh cần phải chuẩn bị kĩ, cẩn thận một số nội dung sau:

- Đọc kĩ đề bài, xác định các yêu cầu của đề

- Huy động vốn kiến thức có liên quan (ở trên nhiều lĩnh vực khác nhau)

- Sắp xếp những điều định nói theo một trình tự hợp lí để có một dàn bài.

- Luyện nói trước ở nhà (từng phần / cả bài), khi nói dựa vào dàn ý để trình bày. Không đọc, cũng không phải là học thuộc lòng.

- Chú ý tư thế, điệu bộ khi luyện nói.

      3.2. Thiết kế khoa học việc luyện nói ở trên lớp:

     3.2.1. Đối với giáo viên:

      Với lượng thời gian luyện nói trên lớp, khi tiến hành luyện nói trên lớp, giáo viên cần nhắc lại yêu cầu của tiết học và có thể không cần cho học sinh nói đầy đủ bố cục ba phần mà có thể mỗi học sinh chỉ nói một phần. Giáo viên có thể cho học sinh chuẩn bị nói từng phần ở nhà và khi thực hiện trên lớp thì phân nhóm để học sinh có sự phối kết hợp với những thành viên khác trong nhóm giúp cho phần nói của mỗi học sinh sẽ không rời rạc trong mối quan hệ với bố cục của toàn bài. Giáo viên cũng cần lưu ý phải tạo được không khí cởi mở trong giờ luyện nói để học sinh tự tin, thoải mái. Đồng thời, giáo viên cũng nên có hướng dẫn chung về yêu cầu ở đầu tiết, cho học sinh nhận xét, bổ sung những nội dung cần thiết, và có sự động viên, khen thưởng kịp thời khi học sinh hoàn thành xong phần nói của mình.

    3.2.2. Đối với học sinh:

     Để thực hành luyện nói tốt trên lớp, học sinh cần tiến hành theo một trình tự và phải đảm bảo được những yêu cầu sau:

    - Trước hết, học sinh cần nắm lại yêu cầu của tiết luyện nói và nội dung mà đề bài yêu cầu để tạo được tâm thế khi bước vào tiết học.

    - Trên cơ sở sự chuẩn bị, học sinh sẽ tiến hành tập luyện nói nhiều lần ở nhà theo yêu cầu.

    - Trong quá trình luyện nói nên đi thẳng vào vấn đề, nói ngắn gọn, tập trung vào những ý quan trọng, những chi tiết nổi bật đã được chuẩn bị để thu hút sự chú ý của người nghe; tránh nói vòng vo, chung chung sẽ khiến người nghe nhàm chán, không hiểu được người nói đang nói vấn đề gì.

    - Cần chú ý các phần trong bài nói của mình, không được tùy tiện trong nói năng.

   3.3. Rèn kĩ năng nói trước tập thể:

   3.3.1. Đối với giáo viên:

     Nêu rox yêu cầu của bài nói, tác phong cử chỉ điệu bộ của người nói.

    3.3.2. Đối với học sinh:     

    - Có tâm thế vững vàng, tự tin trước khi nói (Phải chuẩn bị kĩ)

    - Bài nói phải đủ ba phần:

      + Phần đầu: Lời chào, giới thiệu về bản thân và nội dung trình bày.

      + Phần chính: Nói ngắn gọn nhưng đầy đủ các nội dung cần trình bày.

      + Phần cuối: Lời cám ơn, mong được sự góp ý, lời hứa hẹn, …

    - Sử dụng ngôn ngữ nói (khẩu ngữ), diễn đạt tự nhiên, có thể thêm một số từ ngữ chêm xen; có sử dụng dàn bài để nói nhưng không phải để đọc hoặc học thuộc lòng.

    - Rèn cách nói chuẩn, rõ ràng, khúc chiết; biết lên bổng xuống trầm, thể hiện cảm xúc chân thành, tự nhiên. Tránh lối nói ấp a ấp úng, lỗi lặp từ ngữ, hoặc dùng những lời lẽ sáo rỗng.

    - Tư thế nói phải đường hoàng, chững chạc; mắt hướng về các bạn; có thể kết hợp thêm điệu bộ để thu hút sự chú ý của các bạn. Tránh nhìn nơi khác để nói (nhìn giáo viên, nhìn vào vở, nhìn xuống đất, nhìn ra cửa, …).

    - Xác định đúng mối quan hệ trong giao tiếp khi nói (quan hệ ngang hàng) để có cách xưng hô phù hợp (tôi - các bạn). Không xưng em, vì không phải là nói với thầy (thầy chỉ là người điều hành, hướng dẫn)

    3.4. Tạo hứng thú và rút kinh nghiệm trong tiết luyện nói:

     3.4.1. Đối với giáo viên:

     Với phương pháp dạy học tích cực, để phát huy vai trò chủ thể của học sinh trong quá trình luyện nói, giáo viên cần lưu ý:

     - Hướng dẫn cho học sinh một cách cụ thể, sát hợp với yêu cầu của tiết học trong việc chuẩn bị ở nhà, có phân công cụ thể cho từng tổ, nhóm, cá nhân.

     - Trong quá trình luyện nói, giáo viên có sự theo dõi cụ thể, động viên, khích lệ kịp thời những học sinh có kĩ năng trình bày tốt. Đồng thời uốn nắn, sửa chữa cho những học sinh nói không đúng theo yêu cầu, hay mắc lỗi về phát âm, tác phong, tư thế trong quá trình nói. Chú ý lời lẽ mang tính động viên để khuyến khích học sinh rèn kĩ năng nói tốt hơn trong những lần sau.

     - Bên cạnh đó, giáo viên cũng cần có sự nhận xét, đánh giá kết quả luyện nói của học sinh một cách khách quan, công bằng để tạo sự hứng thú và phát huy tính tích cực của học sinh trong giờ học.

    3.4.2. Đối với học sinh:

    * Về người trình bày:

    - Phải có sự chuẩn bị tốt để tạo tâm thế tự tin khi nói trước lớp.

    - Trình bày rõ ràng, mạch lạc, thu hút sự chú ý của các bạn.

    - Có tinh thần cầu thị trong nhận xét, đánh giá của các bạn cũng như của thầy cô.

    * Về phía người nghe:

     - Cần chú ý lắng nghe khi người khác trình bày, thể hiện thái độ nghiêm túc trong giờ học và tôn trọng người khác.

     - Có ý kiến nhận xét, đánh giá đúng mức về cả ưu điểm cùng với những tồn tại, thiếu sót. Nhận xét, đánh giá cũng phải đầy đủ về nội dung, cách trình bày, tác phong, tư thế, … và nên mang tính động viên. Tránh trường hợp ngại nhận xét, hoặc chỉ nhận xét khuyết điểm, hoặc nhận xét chung chung, qua loa cho xong chuyện.

      3.5. Một số ví dụ minh họa:

      3.5.1. Ví dụ ở lớp 6, tiết 48: Luyện nói kể chuyện

        - Về kiến thức: Yêu cầu HS lập dàn bài kể chuyện tập nói dưới hình thức đơn giản, ngắn gọn.  Biết trình bày, diễn đạt để kể một câu chuyện của bản thân

        - Về kĩ năng: Lập dàn ý và trình bày rõ ràng, mạch lạc một câu chuyện của bản thân trước lớp.      

       Có thể hình dung trình tự của tiết luyện nói này như sau:

- Bước 1: GV đặt câu hỏi: Nêu dàn ý chung của bài văn tự sự?
- Bước 2: GV tiếp tục đặt câu hỏi đàm thoại gợi mở để HS tái hiện kiến thức đã học.
Để rèn luyện kĩ năng lập dàn bài, GV định hướng cho HS chọn đề 2 ở SGK trang 111 và lập dàn bài trước ở nhà. Dàn bài này phục vụ việc luyện nói (kể miệng) nên chỉ cần soạn ở dạng đại cương, sơ lược. Cụ thể dựa vào yêu cầu của đề bài, em suy nghĩ, nhớ lại, tưởng tượng thêm… để tìm ý (khâu này rất quan trọng), rồi sắp xếp các ý tìm được theo một trình tự hợp lí (cái gì kể trước, cái gì kể sau…), tạo thành dàn ý của bài kể.

- Bước 3: Cho HS xem một số hình ảnh về những đoàn thăm hỏi các gia đình liệt sĩ neo đơn để gợi cho HS hình dung các sự việc diễn ra trong câu chuyện sắp kể.

- Bước 4: Luyện nói:

   HS thảo luận theo nhóm theo dàn ý đã thống nhất (5 phút).

   GV nêu yêu cầu bài nói các nhóm:

       Nói rõ ràng, dễ nghe, phát âm chính xác.

       Nói thành câu gãy gọn, diễn đạt trong sáng, mạch lạc, chặt chẽ, sinh động (chú ý diễn cảm, nhấn giọng ở những chỗ cần thiết; không nói như đọc thuộc lòng…

    Các nhóm cử người lên trình bày từng phần (25 phút).

    Nhóm khác nhận xét về nội dung bài nói, tác phong, cử chỉ điệu bộ người trình bày(5 phút).

    GV đánh giá chung và cho điểm theo nhóm.

    GV củng cố bài và hướng dẫn về nhà.

    3.5.2. Ví dụ ở lớp 7, tiết 42: Luyện nói: Văn biểu cảm về sự vật, con người.

        - Về kiến thức: Yêu cầu HS lập dàn bài văn biểu cảm về sự vật, con người.

       - Về kĩ năng: - Tìm ý, lập dàn ý, diễn đạt. Nói theo chủ đề biểu cảm.

Bước 1. Kiểm tra viêc chuẩn bị bài:

- GV giao đề 4. Biểu cảm về món quà tuổi thơ.

- Nêu các cách lập ý em sẽ chọn cho bài viết:

- Các cách lập ý:

+ Hồi tưởng quá khứ, suy nghĩ hiện tại

+ Quan sát, suy ngẫm

+ Hứa hẹn,mong ước

- GV yêu cầu hs lập dàn bài ở nhà.

Bước 2. Tổ chức luyện nói:

- GV lưu ý: Văn nói khác văn viết ở chỗ: nội dung không nói quá dài, nhiều chi tiết, cần phải biết chi tiết quan trọng, gợi cảm.

- Người nói: biết cách diễn đạt, trình bày các ý theo thứ tự hợp lí.

- Tình cảm phải chân thành

- Từ ngữ phải chính xác, trong sáng

- Bài nói phải mạch lạc, đảm bảo tính liên kết.

- GV chia lớp ra 4 nhóm

- Từng nhóm cử HS nói trước tổ.

- Các bạn trong tổ nhận xét bổ sung.

- GV theo dõi chung

- GV mỗi nhóm 1 em có bài nói khá nhất nói trước lớp

- HS và GV cùng nhận xét

- GV nhận xét đánh giá, cho điểm.

Bước 3. Tổng kết giờ luyện nói:

- Chú ý: Tác phong, giọng điệu, cách diễn đạt, cách lập ý, tình cảm trong sáng.

+ Cần phải chú ý tới sự vật, con người một cách đầy đủ.

+ Người nói phải chú ý yếu tố tự sự và miêu tả => bộc lộ tình cảm, cảm xúc, suy tư.

+ Ví dụ các yêu tố hồi tưởng, tưởng tượng, liên tưởng để biểu cảm.

+ Vận dụng các hình thức biểu cảm: So sánh, cảm thán (…)

 Bước 4: Củng cố.

Biểu dương những HS có bài chuẩn bị tốt và nói tốt.

Động viên những HS chưa phát huy được khả năng nói.

 Bước 5: Hướng dẫn về nhà

- Từ dàn ý bài nói viết thành bài văn hoàn chỉnh.

     3.5.3. Ví dụ ở lớp 8, tiết 47: Luyện nói kể chuyện theo ngôi kể kết hợp với miêu tả và biểu cảm.

     Theo như định hướng và yêu cầu trên thì ở giờ luyện nói này, giáo viên cần lưu ý cho học sinh hai phương diện cơ bản, đó là:

        - Về kiến thức: Yêu cầu sử dụng đúng ngôi kể để kể một câu chuyện có kết hợp với miêu tả và biểu cảm. Khi chuẩn bị nội dung nên có chuẩn bị dàn bài nhưng không nên viết thành văn.                                                                               

        - Về kĩ năng: Nói rõ ràng, diễn tả tốt thái độ, tình cảm, ngữ điệu… của nhân vật và lời của người kể chuyện. Không học thuộc, không đọc lại, không nói từ đầu đến cuối bằng một giọng đều đều. Cần phân biệt được giọng của người kể với lời thoại của các nhân vật, phân biệt lời văn miêu tả với lời văn đối thoại, lời văn tự sự khách quan với lời văn biểu cảm chủ quan của nhân vật. Tác phong phải bình tĩnh, tự tin, chững chạc.

       Có thể hình dung trình tự của tiết luyện nói này như sau:

       Trước tiết học này, giáo viên hướng dẫn nội dung của tiết học và yêu cầu học sinh chuẩn bị kĩ ở nhà (ít nhất là trước 2- 3 ngày): kể chuyện kết hợp với miêu tả và biểu cảm. Yêu cầu học sinh dự kiến yếu tố miêu tả và biểu cảm sẽ đan xen vào chỗ nào trong đoạn văn kể lại mà mình sẽ chuẩn bị.

      Khi tiến hành luyện nói trên lớp, trước hết giáo viên cho học sinh đọc đoạn văn kể lại việc chị Dậu đánh nhau với cai lệ và người nhà lí trưởng trong tác phẩm Tắt đèn của Ngô Tất Tố mà sách giáo khoa đã trích dẫn. Trước khi đọc, có thể lưu ý học sinh theo dõi việc kể chuyện đan xen với yếu tố miêu tả và biểu cảm trong đoạn văn này thể hiện ở chỗ nào. Sau đó lần lượt hướng dẫn cho học sinh tìm hiểu câu hỏi đã nêu ở sách giáo khoa. Khi kể lại đoạn trích này theo ngôi thứ nhất, cần thay đổi các yếu tố kể cho phù hợp, chẳng hạn như: từ ngữ xưng hô phải chuyển thành ngôi thứ nhất (xưng “tôi”), phải chuyển lời thoại trực tiếp thành lời kể gián tiếp, lựa chọn chi tiết miêu tả và biểu cảm cho sát hợp với ngôi kể thứ nhất… Trong khi kể có thể kết hợp với các động tác, cử chỉ, nét mặt để miêu tả và thể hiện tình cảm. Như vậy, với những định hướng trên thì học sinh sẽ chuẩn bị đúng, đủ và tiến hành luyện nói theo đúng yêu cầu trọng tâm, chủ động và tự tin hơn trong tiết học.

     3.5.4. Ở lớp 9, tiết .....: Luyện nói tự sự kết hợp với nghị luận và miêu tả nội tâm.

     Để chuẩn bị cho tiết luyện nói này được tốt, giáo viên có thể hướng dẫn cho học sinh chuẩn bị bài ở nhà theo những gợi ý sau:

  - Đọc kĩ đề bài, xác định ngôi kể, người kể chuyện, phương thức biểu đạt chính.

  - Khi kể cần kết hợp thêm yếu tố nào?

  - Để câu chuyện có yếu tố nội tâm thì đó là nội tâm của ai?

  - Dự kiến yếu tố nghị luận: suy nghĩ và nhận xét, đánh giá về thái độ, hành động

 ghen tuông, mù quáng của Trương Sinh…

       - Cần chú ý sử dụng yếu tố đối thoại trong bài nói: đối thoại giữa Trương Sinh và Vũ Nương, Trương Sinh và bé Đản.

       - Chú ý giọng nói, nét mặt của nhân vật Trương Sinh qua từng sự việc: lúc đầu thì bình thường, sau đó thì nóng nảy, tức giận và cuối cùng thì ân hận.

       - Giáo viên yêu cầu học sinh lập dàn bài và tập nói ở nhà. Có thể chia nhóm để có sự kết hợp với các thành viên trong nhóm và phân nhau nói từng phần.

       Khi tiến hành luyện nói trên lớp, trước hết giáo viên cần hướng dẫn học sinh tìm hiểu yêu cầu của đề bài:

      + Về kiến thức: Sử dụng ngôi kể thứ nhất, đóng vai Trương Sinh và kể lại câu chuyện (kể từ đầu đến “… Bấy giờ chàng mới tỉnh ngộ nhưng việc trót đã qua rồi”).

      + Về kĩ năng: Có lời giới thiệu, kể tự nhiên, hướng vào người nghe, tạo cảm giác thoải mái, không mắc lỗi diễn đạt của văn nói.

       Sau đó, giáo viên tiến hành cho học sinh luyện nói. Giáo viên có thể cho học sinh nói từng phần. Chẳng hạn như:

        - Học sinh thứ nhất nói phần lời giới thiệu. Ví dụ: Chào các bạn, tôi là Trương Sinh trong truyện “Chuyện người con gái Nam Xương”… Sau đó cho học sinh khác nhận xét lời giới thiệu của bạn và giáo viên có sự nhận xét, bổ sung.

       - Học sinh thứ hai nói phần từ đầu truyện đến lúc chàng Trương đi lính. Tương tự giáo viên gọi học sinh khác nhận xét xem bạn kể đã đúng cốt truyện chưa, trong lời kể đã sử dụng yếu tố nội tâm hay chưa, nhận xét xem tư thế, tác phong, lời nói của bạn như thế nào. Cuối cùng, giáo viên nhận xét, bổ sung và cho điểm.

      - Tương tự, học sinh thứ ba kể phần tiếp theo của câu chuyện. Học sinh khác nhận xét trong lời kể của bạn có kết hợp yếu tố miêu tả nội tâm và yếu tố nghị luận hay không. Nhận xét tư thế, tác phong trình bày của bạn. Nếu còn thời gian, giáo viên có thể cho từ 1- 2 học sinh nói lại cả bài.

       Tóm lại, một giờ luyện nói trong môn Ngữ văn đặc biệt là trong phân môn Tập làm văn không đơn thuần chỉ là giờ thực hành vận dụng các kiến thức về Văn học và Tiếng Việt để trình bày một vấn đề  mà còn là giờ học rèn cho học sinh kĩ năng trình bày một vấn đề trước đám đông để thể hiện những suy nghĩ của cá nhân về những vấn đề mà các em quan tâm. Vì vậy, muốn các giờ luyện nói đạt hiệu quả cao thì giáo viên phải chú ý rèn luyện cho các em ở cả ba phân môn Tập làm văn, Văn bản và Tiếng Việt. Trong quá trình luyện nói, cần hướng dẫn cho học sinh nói theo dàn bài, tránh học vẹt, học thuộc lòng, giọng nói phải rõ ràng, phát âm đúng và chuẩn, tác phong và cảm xúc phải tự nhiên, không gò bó, phải tự chủ, tự tin và sáng tạo. Giáo viên phải tạo được không khí hào hứng cho học sinh, khuyến khích học sinh bộc lộ những suy nghĩ, tư tưởng, tình cảm của mình.

     IV. Kế hoạch thực hiện:

        1. GV viết chuyên đề: Hoàng Thị Thúy Hồng (Thực hiện vào tháng 11/2020)

       2. GV thể nghiệm chuyên đề (Thực hiện vào tháng 12/2020):

        -  GV : Hoàng Thị Thúy Hồng

            Tiết 1 (Ngữ văn 6): Luyện nói kể chuyện  

        -  GV : Hoàng Thị Kim Loan

            Tiết 2 (Ngữ văn 8): Kể chuyện theo ngôi kể kết hợp với miêu tả và biểu cảm.

       Trên đây là một số vấn đề khi giảng dạy tiết luyện nói cho học sinh trong môn Ngữ văn ở bậc THCS mà nhóm GV Ngữ văn- Trường THCS Quang Phú đã rút ra được trong quá trình tìm hiểu, nghiên cứu và đặc biệt là qua thực tế giảng dạy của các giáo viên ở trên lớp. Tuy nhiên, đó cũng chỉ là những vấn đề mang tính định hướng, giúp phần nào cho giáo viên khi thiết kế và tổ chức tiết luyện nói có hiệu quả hơn. Rất mong sự đóng góp thêm ý kiến của quý đồng chí đồng nghiệp.

                                                                       

 

                                                                                   Người thực hiện

 

                                                                       Nhóm GV Ngữ văn

                                                                         Trường THCS Quang Phú

 

 

 

 

 

Bài tin liên quan
Chính phủ điện tử
Tin đọc nhiều
Liên kết website
Thống kê truy cập
Hôm nay : 2
Hôm qua : 5
Tháng 03 : 7
Năm 2021 : 385